Gỡ nút thắt trong PPP nhìn từ những công trình giao thông quan trọng

Khuyến khích đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) là một trong những chủ trương, giải pháp quan yếu nhằm tạo bước ngoặt về hạ tầng của quốc gia, đặc thù là ngành liên lạc. Tuy nhiên, việc hiện thực chủ trương khuyến khích đầu tư theo phương thức đối tác công – tư (PPP), đặc thù trong ngành liên lạc vận tải còn bộc lộ ko ít bất cập, hạn chế; Nhiều dự án PPP gặp ko ít vướng mắc về cơ chế, chính sách, dẫn tới tình trạng triển khngười nào chậm, kỉm hiệu quả và xung đột lợi ích giữa những nhà đầu tư và người sử dụng nhà sản xuất công, tạo dư luận tiêu cực.

Đây là lý do chúng tôi tổ chức tọa đàm: “Gỡ nút thắt trong PPP nhìn từ những dự án liên lạc quan yếu”

Xin trân trọng giới thiệu những vị khách mời tham gia chương trình:

Ông Nguyễn Đăng Trương – Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Ông Trần Chủng – Chủ tịch Hiệp hội những nhà đầu tư dự án liên lạc

Ông Trần Văn Thế – Phó Chủ tịch Tập đoàn Đnngười nào lưngo Cả

Xin cảm ơn những vị khách mời đã nhận lời tham gia chương trình!

&#một3;

&#một3;

Các vị khách mời tham gia chương trình tọa đàm

MC: Câu hỏi trước tiên xin gửi tới ông Nguyễn Đăng Trương: Thưa ông, tới thời khắc này, chúng ta đã sở hữu nhiều dự án, dự án được thực hiện theo hình thức đối tác công – tư (PPP), vậy, dựa trên những căn cứ pháp luật nào để những nhà đầu tư thực hiện những dự án này?

Ông Nguyễn Đăng Trương: Hiện nay, qui định về PPP đang được điều chỉnh bởi hngười nào Nghị định của Chính phủ, thứ nhất là Nghị định 63 năm hngười nào0một8 về đầu tư theo hình thức đối tác công – tư và Nghị định 30 về lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

Hngười nào văn bản này đã đủ để nhà đầu tư yên tâm chưa?

Nếu nói đủ thì sườn khổ pháp lý đã đủ để triển khngười nào những dự án nếu ko đủ thì chắc những dự án sẽ ko triển khngười nào được. Tuy nhiên, việc triển khngười nào vẫn còn vướng mắc về mặt pháp lý. Để những nhà đầu tư thực sự yên tâm đầu tư và thực sự thu hút được những nhà đầu tư từ những thành phần kinh tế, kể cả đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài thì chúng ta vẫn cần văn bản pháp lý ở mức cao hơn Nghị định, đó là văn bản pháp luật, văn bản luật ở cấp Quốc hội ban hành.

&#một3;

&#một3;

Ông Nguyễn Đăng Trương – Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Vì ở Nghị định vẫn còn những nút thắt, những vướng mắc mà cấp Nghị định chưa thể làm thỏa mãn về mặt pháp lý, thỏa mãn tâm lý của nhà đầu tư, đó là những luật trên Nghị định vẫn còn những điều chỉnh ko cho riêng PPP, hoặc đầu tư tư thuần túy. Trong lúc công – tư sở hữu đặc thù, nên nếu ko sở hữu văn bản riêng biệt ở cấp luật thì vẫn còn những vướng mắc chưa thể làm hài lòng những nhà đầu tư cũng như triển khngười nào một nhữngh vững chắc mô phỏng đầu tư công – tư một nhữngh vững bền và hiệu quả.

MC: Kỳ họp thứ 8 vừa rồi, Chính phủ trình Quốc hội Dự án Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Là người theo dõi, quản lý ngành này, ông sở hữu thể cho biết, phản ứng của những đại biểu Quốc hội như thế nào?

Ông Nguyễn Đăng Trương: Tinh thần chung, Quốc hội và những vị đại biểu Quốc hội đều hết sức đồng thuận trong việc phải sở hữu Luật PPP, sự cần thiết ban hành luật đều được thống nhất ở mức cao. Còn những vấn đề những vị ĐBQH quan tâm đó là việc làm sao sử dụng mô phỏng đối tác công tư để huy động tối đa những nguồn lực và sử dụng hiệu quả nhất những nguồn lực, kể cả nguồn lực công và nguồn lực tư để đầu tư hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng liên lạc, thị thành, thủy lợi phục vụ cho phát triển quốc gia, đặc thù cho những vấn đề mang tính dài hạn, tránh những rủi ro, hệ lụy mặc cả phía Nhà nước, nhà đầu tư sở hữu thể gặp phải, nếu xảy ra những rủi ro, hệ lụy đó sẽ tác động tới kinh tế – xã hội của quốc gia.

MC: Vâng, xin cảm ơn ông. Về phía Hiệp hội những nhà đầu tư dự án liên lạc, ông Trần Chủng sở hữu thể nêu những vướng mắc cơ chế, thiết chế hiện nay, sở hữu gì khó khăn với DN ko?

Ông Trần Chủng: Kính thưa những vị khán giả, thưa những vị khách mời, Hiệp hội những nhà đầu tư những dự án đường bộ liên lạc Việt Nam mới được thành lập một năm. Tháng 6/hngười nào0một9, Bộ Nội vụ xác nhận sự ra đời của Hội. Tháng 8/hngười nào0hngười nào9 chúng tôi tổ chức một cuộc khảo sát từ Cần Thơ tới Quảng Ninh. Chúng tôi tới mộthngười nào dự án, trong đó sở hữu hngười nào dự án thuộc những dự án đầu tư công (dự án hạ tầng tiêu dùng vốn ODA), một0 dự án được đầu tư theo phương thức PPP. Chúng tôi đã tập hợp được nhiều ý kiến phản ánh của những nhà đầu tư, nhìn được thực trạng, tình trạng vận hành của những dự án, đặc thù là những dự án theo phương thức PPP. Các nhà đầu tư đều lo lắng vì đây là cuộc ctương đối quan yếu và là nguồn để Nhà nước huy động những nguồn lực trong xã hội thực hiện đầu tư hạ tầng cho quốc gia.

Đầu tư hạ tầng liên lạc là một trong 3 mũi nhọn mà Đảng, Nhà nước đề ra để phát triển kinh tế quốc gia. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, nhưng những nhà đầu tư thật sự nhiều trằn trọc.

&#một3;

&#một3;

Ông Trần Chủng – Chủ tịch Hiệp hội những nhà đầu tư dự án liên lạc

Trăn trở trước tiên của họ chính là việc chưa sở hữu một bộ luật hoàn chỉnh về PPP. Tức là thiết chế hiện nay mới sở hữu cao nhất là cấp Nghị định như ông Chương nói. Bên cạnh đó sở hữu những thông tư điều chỉnh hoạt động đầu tư theo phương thức PPP. Các Bộ còn sở hữu những văn bản khác nữa, thỉnh thoảng sở hữu sự chồng chéo, làm DN gặp nhiều khó khăn, cản trở. Cho nên, những nhà đầu tư mong muốn sở hữu một bộ luật để sở hữu hành lang trong đó thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, nhà đầu tư, đặc thù trong phương thức PPP này san sẻ thắng lợi và rủi ro.

Chúng tôi tới những dự án thì đều thđó, những rủi ro phần to đều nghiêng về phía những nhà đầu tư. Nhiều rủi ro dẫn tới sở hữu những nhà đầu tư khả năng vỡ nợ hoặc tạo ra nợ xấu với nhà băng. Như vậy, điều trước tiên chúng tôi lo lắng chính là chưa sở hữu luật ctương đối, bộ luật hoàn chính, chính vì thế, rất mong muốn sở hữu Luật PPP.

Thứ hngười nào, chúng tôi rất trằn trọc trong thiết chế. Những Nghị định như 63 hay những Nghị định trước đây và sắp tới là Luật PPP, cần thiết phải khắc phục được những vấn đề xung đột trong công việc quản lý những dự án đầu tư xây dựng, đặc thù vận dụng theo phương thức PPP. Mô hình đầu tư công và đầu tư theo phương thức PPP như ông Chương nhắc là khác nhau, đặc thù là vấn đề quản lý vốn. Thế nhưng hiện nay, phần to những luật khác như Luật Đất đngười nào, Luật Xây dựng đều điều chỉnh công việc quản lý dự án theo mô tuýp là đầu tư công, sắp như quản lý như quản lý vốn của Nhà nước. Điều này dẫn tới sức ép rất to về vấn đề kiểm soát của những cơ quan nhà nước sở hữu thẩm quyền từ quá trình chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư, và đặc thù công việc thanh hao tra, rà soát như đối với dự án đầu tư PPP. Tới đây, Luật đầu tư PPP cần phải tháo gỡ những nội dung này để những nhà đầu tư hoàn toàn yên tâm đóng góp nguồn lực của mình và tham gia phát triển hạ tầng liên lạc quốc gia.

PV: Như vậy, trong ý kiến của ông nổi lên vấn đề trách nhiệm của cơ quan quản lý liên quan phần vốn của nhà đầu tư tư nhân tham gia vào dự án PPP. Với tư nhữngh là đơn vị từng tham gia vào những dự án trong  đó sở hữu những dự án to, ông Trần Văn Thế sở hữu thể san sẻ là đã từng bị những tác động hay gặp những vấn đề lúc thực hiện những dự án này mà trong  Luật PPP chúng ta cần phải tháo gỡ?

Ông Trần Văn Thế: Tập đoàn Đnngười nào lưngo Cả là đơn vị hàng đầu trong đầu tư đối tác công – tư. Trong quá trình triển khngười nào đầu tư chúng tôi gặp phải nhiều bất cập. Thứ nhất, về pháp lý do những qui định sườn pháp lý PPP chưa đồng bộ nên lúc xử lý một vấn đề rất nhúng túng, khó xử lý.

Ở đây đi vào những tình huống cụ thể chúng tôi gặp phải. Thứ nhất là xử lý nhà đầu tư yếu kỉm: Trong quá trình đầu tư, sở hữu những nhà đầu tư ko thực hiện được việc góp vốn chủ sở hữu để tham gia đầu tư vào dự án, sở hữu những dị đồng về Luật DN cũng như luật qui định về đầu tư theo hình thức đối tác công – tư cho nên việc xử lý rất mất thời kì, thậm chí chúng tôi phải mời cả những đơn vị như kiểm toán, công an, những bộ, nghình vào để khắc phục việc xử lý nhà đầu tư yếu kỉm lúc họ ko đồng hành đầu tư tiếp cùng nhà đầu tư chúng tôi.

&#một3;

&#một3;

Ông Trần Văn Thế – Phó Chủ tịch Tập đoàn Đnngười nào lưngo Cả

Bất cập thứ hngười nào là cam kết của phía cơ quan Nhà nước sở hữu thẩm quyền thường xuyên bị vô hiệu lúc mà một bên hợp đồng đơn phương ko thực hiện những cam kết đã ký với nhà đầu tư bằng hợp đồng dự án. Do đó, chúng tôi gặp nhiều khó khăn. Cụ thể, đối với vốn Nhà nước lúc tham gia vào dự án lúc nhận tiền khoản vay chưa đủ vốn đã cam kết thì bị thu hồi, dẫn tới phương án tài chính cũng bị thâm hụt. Cái khó thứ hngười nào là cơ quan nhà nước cũng đơn phương bỏ đi một trạm thu phí, cụ thể là dự án cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn, dự án Hầm đường bộ Đnngười nào lưngo Cả, do vướng mắc về cơ chế, làm cho phương án tài chính của chúng tôi bị phá vỡ, tác động tới việc tiếp tục nhận tiền khoản vay cũng như thu xếp tín dụng.

Giá vé và lộ trình tăng giá: Cụ thể những dự án chúng tôi đã hoàn thành và đi vào thu phí thì cũng đã tới thời kì tăng giá vé theo cam kết nhưng chúng tôi đã nhiều lần đề nghị tới cơ quan Nhà nước sở hữu thẩm quyền để nhà đầu tư tăng giá vé theo hợp đồng nhưng tới nay vẫn chưa được cthu nạpận. Với những vấn đề tương tự tác động rất to tới việc đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư.

MC: Liệu việc tăng giá mà ko được tăng theo lộ trình thì sở hữu phải liên quan bài toán CPI, tình hình kinh tế nói chung, thưa ông?

Ông Trần Văn Thế: Ảnh hưởng trực tiếp nhất vẫn là phương án tài chính nguồn trả nợ của nhà băng. Khi cơ quan Nhà nước đã cam kết lộ trình tăng giá tương tự rồi thì nhà băng cũng dựa trên cơ sở vật chất đó để định ra lịch trả nợ thích hợp kế hoạch đó. Khi ko được tăng giá theo lộ trình thì DN ko đủ nguồn thu trả nợ nhà băng và tình trạng phát sinh nợ xấu trong một thời kì.

MC: Thưa ông Nguyễn Đăng Trương, những nội dung ông Trần Văn Thế nêu thì phía cơ quan quản lý nhà nước sở hữu giải pháp gì để giảm bớt những tác động tiêu cực đối với nhà đầu tư?

Ông Nguyễn Đăng Trương: Tôi cho rằng, những nội dung như ông Thế vừa nêu, thì sở hữu mđó giải pháp như sau: Chúng ta cần phải sở hữu bộ luật rõ ràng, mạch lạc và tính pháp lý cao, ổn định. Đđó là điều mà sườn khổ pháp lý tạo ra sân ctương đối sở hữu công bằng sáng tỏ hay ko. Đạo luật phải thể hiện được đây là mô phỏng đầu tư theo phương thức đối tác công tư, sở hữu nghĩa công và tư là đối tác của nhau thì nó phải dựa trên cuộc ctương đối, luật ctương đối đồng đẳng. Những vấn đề như ông Thế vừa nói, sở hữu cảm giác như vô được đồng đẳng giữa khu vực công và tư. Ở đây, chúng ta phải xem xét hngười nào khía cạnh. Thứ nhất, lúc nghiên cứu lập dự án và mời gọi nhà đầu tư, chúng ta đã làm theo đúng những qui định của pháp luật hay chưa. Ví dụ như cam kết của những cơ quan Nhà nước thẩm quyền về vốn sở hữu góp đủ hay ko. Khi đó chúng ta lập kế hoạch sử dụng vốn Nhà nước thích hợp với nguồn lực của quốc gia ko, sở hữu thích hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm mà cơ quan Nhà nước sở hữu thẩm quyền đó được sắp đặt, được phân bổ nguồn lực từ kế hoạch đầu tư công trung hạn hay ko.

Thứ hngười nào, những nhà đầu tư yếu kỉm. Tôi lđó ví dụ pháp luật đã sở hữu qui định rõ ràng về qui định góp vốn chủ sở hữu, là với dự án qui mô như thế nào thì vốn chủ sở hữu tối thiểu phải bằng bao nhiêu. Tuy nhiên, ngay dự án cao tốc Bắc Nam vừa rồi, Bộ GTVT đưa ra mức vốn chủ sở hữu hngười nào0phần trăm thì những nhà đầu tư cũng kêu ầm lên và cho rằng mức đó cao. Thế thì phải từ hngười nào phía. Nếu mong muốn những nhà đầu tư tốt, tránh trường hợp nhà đầu tư vốn mỏng, “tay ko bắt giặc”, thì chúng ta phải sở hữu những qui định nhưng nếu qui định cao quá thì bản thân dự án cũng bị đội mức giá lên. Vì nhà đầu tư bỏ vốn chủ sở hữu cao thì mong muốn lợi nhuận cao hơn vốn đi vay.

Còn cthị xã xóa trạm hay di dời trạm, điều đó chúng ta phải dựa vào hợp đồng. Hợp đồng đã ký, nếu tôi là nhà đầu tư tôi ko cần biết phía Nhà  nước như thế nào nhưng đã cam kết thì phải thực hiện. Tuy nhiên, chúng ta phải bàn từ cả hngười nào phía. Nhà đầu tư lúc đầu tư một dự án phải biết rằng qui định đặt trạm tối thiểu là bao nhiêu. Nếu qui định mà một cơ quan nhà nước nào đó đưa ra lại đặt trạm ko đúng thì lẽ ra anh phải sở hữu quan ngại, phải đặt thắc mắc lại rằng việc đđó nếu ko đúng tương tự sau này lúc ký anh sở hữu cam kết với tôi hay ko. Còn những việc ko đúng pháp luật mà vẫn cam kết thì kể cả phía cơ quan nhà nước thẩm quyền và nhà đầu tư cũng đều đang ko thực hiện đúng.

Ví dụ, giá vé – phí cũng vậy, chúng ta thu phí, lộ trình thu phí bao nhiêu… tất cả đều sở hữu biểu giá và biểu phí hợp đồng, lúc sở hữu điều kiện xảy ra thì mới được điều chỉnh. Đúng như MC nói, nó sở hữu phụ thuộc CPI ko, sở hữu phụ thuộc vào những yếu tố tăng giá khác ko… chứ ko phải cứ thời kì bằng này là được tăng. Nếu ông nào chỉ ký với nhà đầu tư rằng cứ tới thời kì này đương nhiên tăng thì phải xem lại.

Phương án tài chính như ông Thế nói là đúng nhưng phương án tài chính đó nếu thường nhật dòng tiền chảy vào đều đặn với lưu lượng liên lạc, lưu lượng doanh thu đủ; còn ko sở hữu yếu tố tăng giá, ko sở hữu yếu tố lạm phát cao thì việc tăng giá tăng phí phải theo hợp đồng, mà hợp đồng sở hữu điều kiện để tăng giá, tăng phí. Tất cả những nội dung đó chúng ta phải nhìn từ hngười nào phía. Và một điều rất thống nhất với nhau: đã là đối tác công – tư là phải đồng đẳng. Chúng tôi cũng rất thống nhất là ko bao giờ tiêu dùng những quyền lực hành chính hoặc những can thiệp hành chính ko theo qui luật thị trường. Ví dụ, những vấn đề ông Thế nêu ra đây nhịn nhường như chúng ta đang ko theo thị trường. Có những trường hợp cần góp vốn chủ sở hữu phải mời cơ quan thẩm quyền, mời cơ quan công an… những chiếc đó là ko nên xảy ra. Bởi vì nó phi thị trường. Khi xây dựng luật chúng ta phải đảm bảo được những yếu tố thực sự kinh tế thị trường thì nó mới vững bền, đạt yếu tố đồng đẳng và thực sự tạo niềm tin, kêu gọi được khu vực tư nhân sẵn sàng bỏ tiền đầu tư.

MC: Mỗi đơn vị, mỗi người sở hữu nhữngh nhìn riêng đứng ở vị trí công việc, trách nhiệm, nhiệm vụ của mình, nhưng nhịn nhường như bối cảnh chung, bức tranh chung thời kì qua sở hữu vẻ như lúc những dự án này gặp phải những lùm xùm giống như ông Thế nói, ví dụ như lúc muốn tăng giá, gặp phải vướng mắc gì thì sắp như vô thđó vngười nào trò của cơ quan Nhà nước sở hữu chức năng đứng ra để cùng khắc phục với nhà đầu tư. Bên cạnh đó, xã hội nhìn nhà đầu tư là người chỉ biết tới tiền chứ ko cần nói nhiều tới trách nhiệm xã hội. Thưa ông Trương, xin hỏi ông, trách nhiệm này ở trong qui định mới hoặc trong những văn bản pháp luật đã sở hữu thì đã được qui định như thế nào, những bên đã thực thi hay chưa, vì thực tế chưa sở hữu một vị quan chức, lãnh đạo địa phương, bộ nghình phải chịu trách nhiệm về vấn đề bất cập xảy ra ở những dự án PPP hoặc BOT?

Ông Nguyễn Đăng Trương: Tôi cho rằng, MC nêu vấn đề rất đúng và trúng nhưng cũng ko hẳn là vậy. Thứ nhất, lúc xảy ra những vấn đề, sự phản ứng của người dân xung quanh trạm thu phí, đđó là câu cthị xã chúng ta nhìn thđó rõ. Tuy nhiên, nói ko thđó sở hữu cơ quan Nhà nước đứng ra khắc phục là ko đúng. Từ chính phủ, Thủ tướng tới những bộ, nghình liên quan đều rất quan tâm sâu sát, chỉ đạo để khắc phục bảo đảm quyền lợi của người dân và quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư.

Tuy nhiên, hiện nay, chúng ta cũng cần phải sở hữu sự tuyên truyền sâu rộng, thích hợp với người dân là nhà đầu tư người ta cũng chịu rất nhiều rủi ro và sở hữu trách nhiệm với xã hội, tạo ra một con đường mới hay nâng cấp cải tạo để hệ thống đường đi tốt hơn. Chúng ta phải tuyên truyền lợi ích thực thụ người dân được thụ hưởng để giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư san sẻ với nhau và hiểu biết, thực hiện theo pháp luật. Không thể một nhữngh chủ quan hay đổ cho nhà đầu tư chỉ quan tâm tới lợi nhuận.

Thật sự  hiện nay nhiều nhà đầu tư đang bị lỗ, nhiều nhà đầu tư nản lòng lúc đầu tư bỏ ra vốn to, rủi ro cao, mà chưa nhận được sự quan tâm thích đáng. Nhiệm vụ của chúng ta phải tuyên truyền tới nhà đầu tư, chính quyền địa phương, người dân – là người sử dụng nhà sản xuất cuối cùng sở hữu sự thông cảm, san sẻ, thấu hiểu những chính sách pháp luật của Nhà nước, để mục tiêu chỉ phục vụ người dân chứ ko phải làm tớiu cho Nhà nước hay nhà đầu tư.

&#một3;

&#một3;

MC, Nhà báo Vũ Hạnh

MC: Vâng xin cảm ơn ông. Vừa rồi ông Nguyễn Đăng Trương sở hữu nhắc tới cao tốc Bắc Nam. Đây là một dự án rất quan yếu của quốc gia và người dân cũng rất trông đợi ở dự án này. Trong bối cảnh Luật Đối tác công tư đang được xem xét để hoàn thiện hơn về mặt thiết chế. Xin hỏi phía những DN sở hữu mong muốn gì lúc sở hữu nhu cầu tham gia vào việc thực hiện dự án này?

Ông Trần Văn Thế: Đối với dự án cao tốc Bắc Nam, Tập đoàn Đnngười nào lưngo Cả cũng xác định đây là một dự án trung tâm quốc gia, tạo hạ tầng để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tập đoàn Đnngười nào lưngo Cả hiện đang đầu tư và thực hiện những dự án rất to, chúng tôi chỉ xác định tham gia đấu thầu dự án cao tốc Bắc Nam lúc những bất cập được khắc phục.

Cụ thể những bất cập về pháp lý đầu tư theo hình thức PPP cần được hoàn thiện và đợi đợi sự ra đời của Luật PPP đã tiếp thu, hoàn thiện trên cơ sở vật chất những hạn chế của những văn bản trước đó. Thứ hngười nào, chúng tôi cần một cam kết từ phía cơ quan Nhà nước sở hữu thẩm quyền trong việc đảm bảo những quyền  lợi cho nhà đầu tư lúc ký kết hợp đồng dự án. Trong trường hợp vì một lý do nào đó thay đổi chính sách thì phía cơ quan nhà nước phải sở hữu giải pháp bù đắp lại cho nhà đầu tư để bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư.

Thứ ba, chúng tôi cũng cần sự san sẻ của người dân. Vì chúng tôi xác định lúc đầu tư hạ tầng liên lạc là chúng tôi phải thực hiện trách nhiệm xã hội của chúng tôi rồi. Nếu ko vì trách nhiệm xã hội thì chúng tôi đầu tư những ngành khác như sản xuất thương nghiệp hoặc bất động sản thì sở hữu tức thì lợi nhuận. Còn đầu tư theo hình thức PPP thì vốn đầu tư đầu tư to, thời kì thu hồi vốn lâu. Do vậy kế bên sự cam kết của Nhà nước cũng mong muốn người dân đồng hành, san sẻ cùng với những vấn đề của Nhà đầu tư.

Chúng tôi cũng cần làm rõ: Thế nào là đại diện cho người dân lúc tham gia yêu cầu những vấn đề đại diện cho dân. Vì thực tế, chỉ sở hữu một nhóm nhỏ cũng gọi là dân thì sở hữu đủ điều kiện đại diện cho người dân hay ko. Chúng tôi cũng rất san sẻ với những vấn đề của người dân bằng nhữngh mặc dù ko cam kết với nhà nước phải miễn giảm phí cho khu vực người dân xung quanh nhưng trên cơ sở vật chất đề nghị của cơ quan Nhà nước sở hữu thẩm quyền thì nhà đầu tư sẵn sàng san sẻ bằng nhữngh miễn giảm phí đường bộ cho người dân xung quanh khu vực dự án.

MC: Phía Hiệp hội những nhà đầu tư, những ông sở hữu mong muốn như thế nào với Luật PPP, mà việc điều chỉnh trước tiên sở hữu thể nhìn thđó là vào chính dự án chúng ta đang mong đợi – dự án cao tốc Bắc Nam?

Ông Trần Chủng: Trước hết, tôi cũng bộc bạch sự nhất trí với ý kiến của hngười nào vị khách mời thẩm định về việc đầu tư những dự án hạ tầng liên lạc đường bộ, chúng ta phải tính trị giá nó mang lại rất to chứ ko thuần túy cthị xã người dân đi lại an toàn, thuận tiện hơn, mà bản thân dự án liên lạc mang lại lợi ích rất to cho sự phát triển kinh tế của quốc gia.

Rất nhiều dự án mang trị giá trong khoảng thời gian dài mà chúng ta ko thể tính đếm được. Ví dụ như làm hầm qua núi rất đắt nhưng khắc phục bài toán về xã hội là ko còn tngười nào nạn, đặc thù là bài toán về phát triển vững bền, đó là thân thiện môi trường, chúng ta ko bạt núi để xây dựng, chưa kể sở hữu những con đường mang tới trị giá về đất đngười nào, địa tô… Những trị giá đó nhiều lúc nhiều người ko tính tới mà chỉ nhìn thđó làm rồi thu phí. Phí chỉ là một khía cạnh thôi còn phải tính tới trị giá tổng thể của một dự án.

Cũng như ông Thế vừa nhắc, ví dụ dự án bất động sản tôi làm xong bán là sở hữu tiền ngay. Nếu chỉ sở hữu bán sắm như thế thì dự án đầu tư hạ tầng liên lạc ko đợi mong được từ nguồn thu đó, mà phải tính tới những trị giá nó mang về cho quốc gia để phát triển kinh tế, xã hội, vững bền môi trường và những trị giá khác nữa. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, riêng đối với trách nhiệm của những dự án PPP thì nhà nước và nhà đầu tư, Nhà nước đã ủy quyền một cơ quan nhà nước sở hữu thẩm quyền thì đương nhiên đó là một bên đối tác trong hợp đồng đối tác công – tư, cũng như ông Trương nhắc, đó là sự đồng đẳng, sòng phẳng về mặt trách nhiệm, theo qui luật kinh tế thị trường. Cơ quan Nhà nước sở hữu thẩm quyền hoặc là đứng đơn độc hoặc là với tư nhữngh cơ quan quản lý nhà nước nên sở hữu nhiều áp đặt hành chính.

Riêng dự án phát triển cao tốc Bắc – Nam, sau lúc Bộ Giao thông-Vận tải hủy bỏ kết quả đấu thầu thì những nhà đầu tư trong nước cũng đã họp và xác định rằng với lòng tự trọng dân tộc, những nhà đầu tư trong nước sẵn sàng tham gia dự án này. Chúng tôi cũng nói rõ phương thức đầu tư PPP ở đây, thực chất là Nhà nước tương trợ khoảng hngười nào0-hngười nào5phần trăm, còn lại 75-80phần trăm của nhà đầu tư. Nhà đầu tư góp vốn chủ sở hữu của họ là hngười nào0phần trăm chẳng hạn thì còn lại họ vay. Họ vay họ trả lãi. Vì thế, 80phần trăm là vốn nhà đầu tư phải lo. Một trong những vấn đề nhà đầu tư phải lo để sẵn sàng tham gia dự án đầu tư cao tốc Bắc Nam chính là khả năng huy động vốn. Người ta sở hữu thể góp hngười nào0phần trăm vốn chủ sở hữu nhưng hiện nay vốn vay ở đâu? Trước đây, vốn tín dụng của những nhà băng thì đã vận dụng cho khá nhiều dự án BOT, đặc thù là những dự án PPP, nên những nhà băng đều tuyên bố vay dài hạn ko còn khả năng nữa.

Luật PPP ra đời mà ko tháo gỡ được khả năng vốn đầu tư, vốn thì đó vẫn là thách thức to nhất với nhà đầu tư trong nước để sở hữu thể tham gia tích cực, chủ động trong dự án cao tốc Bắc Nam. Mặc dù vốn chủ sở hữu như ông Trương nói là người ta sở hữu thể huy động được một5-hngười nào0phần trăm nhưng vốn vay còn lại 45-50phần trăm là một thách thức thực sự đối với nhà đầu tư trong nước.

Chúng tôi cũng đã nhiều lần trao đổi thì đối với nước ngoài người ta sở hữu những phương thức để tạo ra vốn đầu tư và kiểm soát được. Ví dụ hợp liên những nhà băng để tương trợ (bài học của Anh); sắp đây Hàn Quốc đưa ra mô phỏng quỹ đầu tư để huy động vốn trong xã hội.

Nhiều người lo lắng rằng liệu nhà đầu tư trong nước sắp tới sở hữu phải xếp sau là những nhà đầu tư nước ngoài vừa rồi đã trượt đấu thầu quốc tế ko? Cái đó chúng ta phải sở hữu phương thức kiểm soát. Vì thế Luật PPP sắp tới, cũng như Nhà nước chủ động tạo ra kênh để sở hữu thể huy động vốn chính thức cho những nhà đầu tư trong nước. Các nhà đầu tư trong nước chúng tôi cũng muốn thể hiện lòng tự trọng dân tộc bằng nội lực trong nước. Chúng tôi nghĩ nếu sở hữu những phương thức thì bài toán về vốn chúng ta sở hữu thể huy động để làm mướn trình, ko phải chỉ sở hữu đợi vốn đầu tư của những nhà đầu tư nước ngoài.

MC: Cụ thể phía Đnngười nào lưngo Cả sở hữu ý kiến gì về việc huy động vốn này ko?

Ông Trần Văn Thế: Về vốn đầu tư thì đúng như ông Chủng nói. Đối với dự án cao tốc Bắc Nam hiện nay, nút thắt to nhất vẫn là vốn đầu tư lúc hủy bỏ đầu thầu quốc tế chuyển sang lựa chọn đấu thầu nhà đầu tư trong nước. Trong lúc những văn bản quy định về thu hút đầu tư PPP cũng đã chỉ đạo rõ là tạo vốn đầu tư, ưu tiên vốn đầu tư phát triển hạ tầng. Tuy nhiên qui định của tín dụng thì lại thắt chặt cho vay với dự án PPP. Có thể nói chính sách về vốn đầu tư đầu tư cho hạ tầng của nước ta chưa đồng bộ. Do đó việc thu xếp vốn tín dụng thời kì tới chúng tôi thđó rất khó khăn. Nhà đầu tư cũng đã kiến nghị sở hữu những giải pháp tạo vốn đầu tư để thu hút vốn cho hạ tầng liên lạc. Thứ nhất, cho phép phát hành trái phiếu dự án ngay từ lúc triển khngười nào đầu tư chứ ko phải lúc hoàn thành xong dự án; Thứ hngười nào, cần bảo lãnh từ phía chính phủ lúc thu xếp vốn đầu tư tín dụng từ nước ngoài; Thứ ba, cần hình thành một quỹ đầu tư hạ tầng như những mô phỏng của nước ngoài thì sẽ tạo được vốn đầu tư để phát triển hạ tầng.

MC: Thưa ông Nguyễn Đăng Trương, hngười nào ý kiến của ông Trần Chủng và ông Trần Văn Thế sở hữu nói về vấn đề vốn, xin hỏi ông, trong dự án Luật sở hữu tính tới những phương án mà nhà đầu tư nêu ra hay ko?

Ông Nguyễn Đăng Trương: Trước hết, phải nói rằng, nút thắt hiện nay cơ bản nhất của mô phỏng đầu tư PPP là vấn đề về vốn. Nếu nói thị trường vốn thì tới nay chủ yếu chúng ta dựa vào vốn vay của những nhà băng thương nghiệp cổ phần trong nước. Tuy nhiên, dư địa cho vay những dự án PPP của những NHTM trong nước rất hạn chế. Bởi nguồn cung của họ cũng rất ít nguồn cung dài hạn, mà đã cho vay những dự án PPP thì phải là vốn dài hạn, bao gồm lượng vốn và thời khoản cho vay, đều sở hữu những hạn chế. Điều này dẫn tới, hiện những nhà đầu tư đang phải vay với tiền lãi cao và nếu so sánh vốn đầu tư dài hạn của những tổ chức tín dụng, những nhà băng nước ngoài hoặc thị trường vốn của nước ngoài thì chúng ta đang chịu tiền lãi cao; dẫn tới tổng mức đầu tư, suất đầu tư của một dự án cao, thì giá phí cao, tác động tới lưu thông, vận tải hàng hóa, và năng lực khó khăn của nền kinh tế giảm, vì mức giá tăng.

Quay trở lại cthị xã hiện nay chúng ta chỉ vay được ở những NHCPTM trong lúc những quỹ đầu tư thì vắng bóng, mà mục tiêu của phát triển PPP là phải phát triển đồng bộ những loại thị trường, bao gồm cả thị trường vốn. Hiện trong luật đã sở hữu qui định với việc chúng ta tạo ra những thị trường vốn. Luật đang thiết kế những cơ chế để nhà đầu tư phát hành trái phiếu dự án, trái phiếu của DN đầu tư. Chúng tôi đang bàn với Ủy ban chứng khoán là phát hành thời khắc nào, phát hành cho những đối tượng nào để tạo những vốn đầu tư sơ cấp hoặc thứ cấp để giảm sức ép lãi vay thì dự án nó sẽ khó khăn hơn, nhà đầu tư sở hữu nhiều lựa chọn vốn.

Riêng những quỹ hình thành từ vốn của Nhà nước hiện đang hạn chế bởi Luật ngân sách, hạn chế thôi ko cấm. Chúng tôi đang quyết tâm bàn với những cơ quan sở quan, đặc thù là Bộ Tài chính, nếu sở hữu thể chúng ta hình thành những quỹ từ phía Nhà nước để sẵn sàng góp vốn vào đây. Chúng ta hình dung, trong một dự án PPP về cơ bản cơ cấu vốn sở hữu 3 nguồn: vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, vốn vay (của những nhà băng, tổ chức tín dụng, vay từ những quỹ) và vốn góp từ nhà nước. Vốn Nhà nước lại phụ thuộc đầu tư công, nếu chúng ta sở hữu những quỹ sẵn sàng để góp, tránh trường hợp ko cam kết được với nhà đầu tư thì trong một cơ cấu vốn đầu tư của dự án PPP phải rộng rãi hóa những nguồn, kể cả nhà nước ko chỉ sở hữu vốn đầu tư công mà còn cả những quỹ đã sẵn sàng, thì sẽ thuận lợi hơn. Nhà đầu tư cũng sở hữu nhiều lựa chọn. Luật đang đi tới thiết chế để sở hữu một thị trường vốn đồng bộ. Đây cũng là thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước lúc chúng ta xây dựng một cơ chế chính sách mới về kinh tế thì phải thích hợp qui luật thị trường và phải đồng bộ những loại thị trường mới khắc phục bài toán tổng thể.

MC: Vậy quỹ này sẽ vận hành như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Đăng Trương: Quỹ sở hữu hngười nào loại, Quỹ của nhà nước để hình thành, đón đầu, tạo niềm tin như là sẵn sàng góp vào những dự án mà nhà nước quyết định đầu tư. Phía tư nhân sở hữu thể hình thành những quỹ, ví dụ như quỹ của bảo hiểm (hưu trí), lúc sở hữu nguồn nhàn rỗi, do những tổ chức tư nhân hoặc cơ quan quản lý hình thành để đầu tư cho vay, hoặc những tổ chức tín dụng… vận hành theo Luật tín dụng. Quỹ của Nhà nước vận hành theo Luật đầu tư công, Luật Ngân sách…, còn quỹ của tư nhân thì vận hành theo kinh tế thị trường, khó khăn về tiền lãi, quan yếu nhất là họ sẵn sàng những vốn đầu tư để nhà đầu tư sở hữu thể tiếp cận được. Chúng ta thđó.

PV: Thưa ông Trần Chủng, mức độ sẵn sàng của những nhà đầu tư đối với một quỹ như thế này sở hữu cao hay ko?

Ông Trần Chủng: Các nhà đầu tư chúng tôi cũng đã bàn tới việc cần sở hữu một quỹ. Kinh nghiệm một số nước thì sở hữu quỹ của Chính phủ, Nhà nước và sở hữu quỹ hoàn toàn của tư nhân (họ tập hợp, huy động vốn nhàn rỗi trong dân). Có thể Hiệp hội trong tương lngười nào sẽ bàn tới một mô phỏng quỹ tương tự. Sơ bộ sở hữu thể thđó, nếu sở hữu một quỹ được sự cho phép hoạt động của Nhà nước với một qui chế, qui tắc vận hành một nhữngh rõ ràng, sáng tỏ thì việc huy động vốn trong xã hội rất to.

Quỹ đó sở hữu thể do một tổ chức tín dụng nào đó sở hữu độ tin cậy đứng ra để thành lập hoặc hình thành  mới một tổ chức. Chúng tôi kỳ vọng nếu sở hữu một quỹ đầu tư phát triển hạ tầng dành riêng cho liên lạc để huy động nguồn lực trong xã hội, đó là thành công. Nguồn lực dôi dư trong xã hội ở đây ko phải là ko sở hữu, và chúng ta rất tiếc là ko phải ko sở hữu những giải pháp sở hữu thể kích hoạt được.

Ông Trần Văn Thế: Hiện nay trong quá trình nhận tiền khoản vay cũng như lập vốn đầu tư ngân sách nhà nước để tương trợ, nhà đầu tư thường rất thụ động. Cũng như trong quá trình nhận tiền khoản vay phải tuân thủ nhiều qui định về đầu tư công, luật ngân sách dẫn tới ko đảm bảo tiến độ thực hiện dự án. Do đó, việc hình thành quỹ này giống như sở hữu một vốn đầu tư sở hữu sẵn tức thời để tương trợ, tham gia vốn góp của nhà nước vào dự án PPP rất thích hợp.

Tôi nghĩ rằng đó phải là một tổ chức tín dụng, bảo hiểm tạo lập nên quỹ này và coi như là đầu tư tài chính sẽ thích hợp hơn với nhà đầu tư hạ tầng liên lạc. Vì đối với nhà đầu tư sở hữu những vốn đầu tư đóng góp trực tiếp vào vốn chủ sở hữu dự án mà họ đầu tư rồi.

PV: Câu cthị xã đầu tư PPP sở hữu nhiều vấn đề đặt ra. Buổi tọa đàm hôm nay, sở hữu một số nội dung được những vị khách mời nhấn mạnh, đó là môi trường pháp lý để những nhà đầu tư hoạt động, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm của mỗi bên; huy động vốn, quỹ để những nhà đầu tư sở hữu thể thực hiện dự án… Hy vọng, trong năm tới, Luật PPP được hoàn thiện và sớm đi vào thực tế. Xin trân trọng cảm ơn những vị khách mời đã tham gia chương trình!/.

Author: admin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *